Những nhóm thuốc đặc trị xương khớp hiện nay

Tham vấn y khoa :Bs.Đinh Quang Đức

Với nam giới, hệ cơ xương khớp bắt đầu yếu dần đi từ sau khoảng 50 tuổi, còn với nữ giới thì thời kỳ mãn kinh là thời kỳ tồi tệ nhất với bao nhiêu vấn đề xảy ra như nguy cơ bệnh tật tăng cao hơn, sắc đẹp phai đi nhanh chóng và kéo theo cả những vấn đề về cơ xương khớp như loãng xương, thoái hóa cột sống,… Khi đó, người ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn về những loại thuốc đặc trị xương khớp. Tuy nhiên, tùy theo từng tình trạng bệnh lý cụ thể, trên những đối tượng bệnh nhân cụ thể thì việc lựa chọn thuốc điều trị là rất khác nhau. Thỏa theo nguyện vọng đó, chúng tôi đã tổng hợp ra một số các nhóm thuốc mà hiện nay người ta chuyên sử dụng để điều trị các bệnh về xương khớp.

1. Nhóm thuốc giảm đau, chống viêm không steroid.

–    Tác dụng của thuốc: ngăn chặn quá trình tạo viêm và hạ sốt, giảm đau do ức chế COX 2 có chứa các chất hoạt hóa viêm như prostaglandin E2,..

–    Thuốc trong nhóm này được chia thành hai nhóm nhỏ là: Thuốc ức chế chọn lọc COX2 và thuốc ức chế kém chọn lọc hoặc không chọn lọc cả hai COX.

+ Thuốc ức chế chọn lọc COX2 tuy ít gây tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa hơn như nguy cơ loét dạ dày tá tràng, nguy cơ xuất huyết tiêu hóa, độc với gan,.. nhưng nó lại gây ra nhiều tác dung bất lợi trên tim mạch hơn. Vì vậy, khi sử dụng nhóm thuốc này cho người cao tuổi thì cần thận trọng. Một số thuốc nhóm này là: Celecoxib, etoricoxib,…

+ Thuốc ức chế không chọn lọc cả hai COX (COX1 và COX 2) thì lại ngược lại, nghĩa là nó an toàn hơn với tim mạch, tuy nhiên nguy cơ gây tác dụng phụ trên tiêu hóa lại cao hơn. Ví dụ một số thuốc như: aspirin, meloxicam, ibuprofen, diclofenac,…

–    Đây được coi là nhóm thuốc phổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất trong điều trị cơ xương khớp như các bệnh: Viêm khớp dạng thấp, loãng xương, gout,… Đối với những thể bệnh khác nhau thì bác sĩ sẽ chỉ định ưu tiên sử dụng các thuốc khác nhau, đường dùng khác nhau. Lấy một ví dụ cụ thể để các bạn có thể tưởng tượng:

+ Với bệnh viêm khớp dạng thấp, ưu tiên sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc COX2 với liều lượng cụ thể: Celecoxib: 200mg, uống 1 đến 2 lần mỗi ngày hay Etoricoxib: 60 – 90 mg, ngày uống một lần.

+ Với bệnh loãng xương: Hướng  dẫn điều trị không ghi rõ nên ưu tiên nhóm thuốc nào, các bạn có thể dùng Naproxen, Ibuprofen, Ketoprofen, Piroxicam,… theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ.

2. Calci và vitamin D:

Đây là hai thuốc được biết đến rộng rãi trong vấn đề điều trị loãng xương – một căn bệnh quá quen thuộc của người cao tuổi.

–    Tác dụng: Bổ sung nếu chế độ ăn uống không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể, giúp tăng mật độ xương và phòng ngừa nguy cơ loãng xương. Hai loại thuốc này hầu như không có tác dụng phụ ở liều điều trị thông thường, tuy nhiên không nên lạm dụng thuốc vì có thể sẽ gây ra những ADR nghiêm trọng.

–    Calci: cần bổ sung calci 500 – 1500mg hàng ngày

–    Vitamin D: Bổ sung với liều lượng khoảng 800 – 1000 IU hàng ngày.

3. Một số nhóm thuốc khác trong điều trị xương khớp.

Có thể kể đến một số nhóm thuốc khác cũng tương đối phổ biến như: thuốc alendronate thuộc nhóm biphosphonat dùng trong điều trị loãng xương, glucocorticoid dùng trong một số bệnh như thấp khớp, viêm khớp, gút,…Sau đây là phần phân tích sơ bộ về hai nhóm thuốc trên:

–    Alendronate Là thuốc đầu tay trong điều trị loãng xương, chống chỉ định cho phụ nữ có thai và trẻ em, thuốc có dược động học khá phức tạp, hấp thụ ít qua đường uống nên cách dùng thuốc phải thực sự được tuân thủ nếu muốn thuốc phát huy tác dụng.

–    Glucocorticoid: Là nhóm thuốc chống viêm, ức chế miễn dịch, vì vậy trong đa số điều trị các bệnh cơ xương khớp, khi các thuốc giảm đau khác không có hiệu lực thì người ta mới nghĩ đến việc sử dụng loại thuốc này.

 

 

Nhận xét và đánh giá

avatar
  Đăng ký  
Nhận thông báo